This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Làm gì khi bị đau nhức xương khớp

Đau nhức xương tại các vùng như lưng,cổ,khớp tay,đầu gối... luôn gây cảm giác khó chịu và thậm chí là cản trở hoạt động sinh hoạt và làm việc của chúng ta một cách bình thường.Và đau lâu dài có thể dẫn tới thoái hóa khớp.

Đau xương khớp.
Vậy chúng ta phải làm gì khi bị đau xương khớp?
Được xem là nỗi ám ảnh của mọi lứa tuổi và càng ngày càng trẻ hóa độ tuổi.Không giới hạn ở nghề nghiệp mà kể cả những người ít phải lao động vất vả như dân văn phòng nguy cơ mắc bệnh vẫn rất cao.
Nguyên nhân của đau xương khớp có thể là do bẩm sinh hoặc tự sinh.Bẩm sinh thì có thể do cấu trúc xương yếu,thiếu canxi khiến xương không chắc khỏe.Nguyên nhân tự sinh là do mang vác nhiều,tư thế học tập và làm việc không đúng.Hoặc cũng có thể do một số bệnh lý đã kèm theo đau xương khớp.
Để ngăn ngừa thoái hóa khớp một số cách sau có thể giúp ngăn ngừa hay làm chậm lại quá trình thoái hóa khớp.
1.Khám bệnh để tìm ra nguyên nhân chính xác bạn bị đau nhức khớp là vì gì,vì bệnh lý hay chỉ là do một số yếu tố khách quan khách.Phát hiện sớm để có phương pháp điều trị thích hợp nhất.
2.Chăm chỉ tập thể dục,vận động xương khớp một cách nhẹ nhàng và đều đặn sẽ khiến các khớp mềm mại hơn,không bị khô chất nhờn bôi trơn các khớp.
3.Khi trời lạnh phải giữ ấm cơ thể,không để bị lạnh mà để khí huyết lưu thông dễ dàng.
4.Chế độ dinh dưỡng,luôn là quan trọng nhất với bất kì ai,chế độ dinh dưỡng tốt,hợp lý thì cơ thể sẽ có sức đề kháng tốt.Đồng thời bạn cũng nên bổ sung canxi,vitamin D,và các vi chất khác cần thiết cho xương để tăng cường độ chắc khỏe cho xương khớp.
5.Khi đã bị đau thì nên thường xuyên xoa bóp cho vị trí đau một cách nhẹ nhàng,vừa làm giảm cơn đau,vừa làm cho máu được lưu thông tốt hơn. 
Trên đây là một số cách giúp giảm đau và phòng ngừa đau xương khớp hiệu quả lâu dài nhất.Các bạn đọc tham khảo và thực hiện để có một bộ xương chắc khỏe nhé.
Ngoài ra thì thực phẩm chức năng Glucosamine cũng rất thích hợp để hỗ trợ bạn trong điều trị thoái hóa khớp.

Share:

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

Những yếu tố gây đau lưng dẫn tới thoái hóa khớp

Đau lưng lâu ngày không khỏi dễ dẫn tới thoái hóa khớp,thoái hóa đốt xương sống.Nặng có thể sẽ bị liệt,ảnh hưởng tới cuộc sống,sinh hoạt thường ngày.
Đau lưng không phải là do bẩm sinh mà thường do thói quen hằng ngày của chúng ta gây nên.Dưới đây là các nguyên nhân chính dẫn tới đau lưng mà chúng tôi kể ra,các bạn nên đọc và rút kinh nghiệm để tránh đau lưng,giảm nguy cơ thoái hóa khớp nhé.
Nguyên nhân gây đau lưng không do bệnh lý:
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO có đến 10% dân số thế giới bị đau lưng,và là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới mât khả năng vận động.
Thứ nhất là về mặt di truyền: Có nghĩa là nếu như bố mẹ mà có cấu trúc xương không vững,yếu hoặc lệch thì còn sinh ra thừa hưởng cấu trúc xương đó thì cũng sẽ có nguy cơ đau lưng rất cao.
Thứ hai: Đau lưng không do di truyền mà do tác phong sinh hoạt của mình không đúng.
- Ngồi làm việc sai tư thế: Ngồi cúi nhiều,ngồi nguyên một tư thế lâu.
- Đứng sai tư thế: Đứng với tư thế khom lưng quá lâu cũng dẫn tới đau lưng,hoặc đứng với tư thế không thẳng làm cong lệch cột sống lâu cũng sẽ dẫn tới đau lưng.
- Mang vác đồ vật nặng.Vật nặng khi mang vác chúng ta sẽ phải cúi người,làm cho xương sống phải chịu đựng một khối lượng lớn,dẫn đến đau.
Nguyên nhân đau lưng do bệnh lý: 
Đau lưng do bệnh lý là do một số bệnh mà khi chúng ta mắc phải cũng sẽ khiến đau lưng:
- Sỏi thận: Khi bạn bị sỏi thận thì đau lưng là điều khó tránh khỏi nhất,cảm giác đau rất khó chịu,làm cho cơ thể mệt mỏi.Cơn đau thường kéo dài triền miên mà không hề thuyên giảm.
- Tổn thương xương như viêm tủy xương,viêm khớp,viêm cột sống dính khớp... cũng sẽ dân đến đau lưng.
- Một số bệnh khác như phình động mách chèn ép xương,hoặc các loại ung thư di căn vào xương tủy cũng sẽ khiến đau lưng.
- Thiếu vitamin D cũng khiến cho cơ thể bị những cơn đau lưng dày vờ.
- Một số bệnh như viêm loét dạ dày,vảy nến,béo phì cũng dẫn đến đau lưng.
Nguyên nhân đau lưng là khá nhiều,chính vì thế mà bạn nên xác định rõ nguyên nhân gây bệnh để kịp thời điều trị,chữa trị.
Share:

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Những thực phẩm có hại cho xương khớp

Để có một bộ xương vững chắc,ngoài tập luyện thể dục thể thao thì thực phẩm rất quan trong cho xương.Tuy nhiên không phải thực phẩm nào cũng có lợi cho xương khớp vì vậy mà chúng ta đã vô tình tự làm hại bộ xương của cơ thể bằng những món ăn không tốt đấy.Dưới đây là 5 thực phẩm không tốt cho xương mà bạn nên hạn chế ăn.Nếu ăn nhiều không kiểm soát bạn sẽ bị thoái hoá khớp nhé.
Đầu tiên là muối,muối là kẻ thù số 1 cho xương.Việc ăn nhiều muối hay là ăn quá mặn sẽ khiến mất lượng canxi cho xương Với 2300mg natri mà cơ thể hấp thụ sẽ mất đi 40mg canxi.Ngoài ra thì việc ăn các thức ăn nguôi,đông lạnh thức ăn nhanh cũng không tốt vì các thức ăn này cũng chứa khá nhiều muối.
Caffeine là kể thù thứ hai của xương.Chất caffeine có trong cafe sẽ lọc canxi từ xương,chính vì thế mà việc uống 2 cốc cafe mỗi ngày sẽ làm cho lượng canxi bị lọc bỏ rất nhiều.100mg caffeine được hấp thụ vào cơ thể sẽ loại bỏ 6mg canxi trong xương.6mg hẳn không phải là một con số lớn,tuy nhiên con số này sẽ tăng lên đáng kể nếu bạn uống cafe từ 2 cốc trở lên cho 1 ngày.Để hạn chế lượng caffeine hấp thụ cho cơ thể bạn nên dùng cafe sữa hay cafe có đường.
Tiếp theo là nước ngọt.
Bởi thành phần của nước ngọt chủ yếu là ga và có thêm cả axit photphoric,rất có hại cho xương.Nước ngọt có thể làm giảm cơn khát của bạn rất nhanh nhưng bạn thấy đấy nó thực sự không tốt cho xương,Vì thế bạn nên hạn chế uống nước ngọt đi nhé.
Thay vì uống nước ngọt có ga bạn có thể tự làm nước ép hoặc sinh tố,vừa tốt cho xương mà cũng rất tốt cho sức khoẻ  và cho da nhé.
Rượu là kẻ thù tiếp theo được kể đến của xương khớp,bởi rượu ngăn chặn khả năng hấp thụ canxi của xương.Nguy hiểm hơn việc uống nhiều rượu sẽ phá vỡ quá trình tái tạo xương.
Cuối cùng là Dầu hidro hoá.
Dầu hidro hoá sẽ phá huỷ vitamin K,là một loại vitamin cần thiết cho xương chắc khoẻ.Dầu hidro hoá có nhiều trong baking thường sản xuất bánh quy,banh nướng vì thế khi ăn bạn nên xem xét thành phần,nếu thấy có nhiều dầu hidro thì hạn chế hoặc tốt nhất không ăn nhé.
Share:

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

Những thực phẩm tốt cho bệnh nhân thoái hóa khớp

Thoái khóa khớp là căn bệnh thường xảy ra ở người già,khi các bộ phận trên cơ thể bị lão hóa đi và xương khớp cũng không tránh khỏi cơ chế đó.
Tuy nhiên để ngăn ngừa và làm giảm quá trình lão hoá xương chúng ta có thể bổ sung dinh dưỡng hợp lý,giúp xương chắc khoẻ hơn.Dưới đây là một số thực phẩm giúp bổ sung canxi cho xương chắc khoẻ.
Người Việt thường có câu "Ăn gì bổ nấy",thật sự đúng cho trường hợp này.Để bổ sung canxi thì nên ăn nhiều loại thịt cá và xương ống.
Xương ống bổ sung canxi

Các món ăn chế biến từ xương sẽ cung cấp lượng canxi và một lượng không nhỏ chất dinh dưỡng giúp xương luôn chắc khoẻ.Ngoài ra các thực phẩm khác như tôm,cua,cá,sò cũng cung cấp một lượng canxi dồi dào,do đó để đổi món cho bữa ăn không nhàm chán bạn có thể thay đổi giữa xương ông với các hải sản kể trên.Một lưu ý dành cho bạn là ăn uống vừa phải vì nếu dư thừa chất dinh dưỡng sẽ dẫn tới bệnh Gout.
Thực phẩm tốt cho xương tiếp theo là Sữa.
Sữa không chỉ tốt cho sự phát triển của trẻ em mà với tất cả mọi lứa tuổi thì sữa luôn có tác dụng nhất định.Đặc biệt với lượng canxi dồi dào trong sữa sẽ bổ sung lượng canxi không nhỏ cho xương.Đặc biệt với sự phát triển của công nghệ cùng sự tiên tiến trong khoa học thì đã có nhiều loại sữa riêng cho loãng xương,giúp xương chắc khoẻ.
Sữa bổ sung canxi 

Ngũ cốc
Ngũ cốc như đậu tương,gạo lứt,lúa mì,bắp rang... thành phần dinh dưỡng của chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất có khả năng tăng cương miễn dịch cho cơ thể,tăng cường sức đề kháng,giúp làm chậm quá trình lão hoá và chậm quá trình oxy hoá.
Ngũ cốc


Nấm
Nhiều người ngạc nhiên khi nấm được đưa vào danh sách những thực phẩm tốt cho xương khớp,thế nhưng ngược lại nấm lại có tác dụng tuyệt vời cho xương khớp và cho sức khỏe của chúng ta.Nấm giúp tăng cường sức đề kháng,ngăn ngừa và hạn chế nguy cơ mắc bệnh tim mạch,béo phì,tiểu đường,các loại bệnh ung thư khác và với xương khớp cũng vậy.Các món ăn từ nấm kết hợp với rau quả sẽ giúp bổ sung các loại vitamin như A,C,E,K... giúp xương khớp chắc khỏe hơn.
Nấm 

Cà chua.
Thật ngạc nhiên phải không ạ,cà chua không những đẹp da,cho bạn làn da căng mịn,sáng bóng mà nó còn chứa một lượng lớn vitamin giúp chậm quá trình lão hóa và bổ sung collagen cho cơ thể.Đối với xương khớp thì giúp bảo vệ các khớp,giảm đau khớp hiệu quả.
Cà chua tốt cho xương khớp

Rau xanh và trái cây khác.
Cung cấp nguồn chất xơ và vitamin chủ yếu cho cơ thể.Trong số đó đặc biệt kể đến đu đủ,dứa,chanh,bưởi,là những loại quả cung cấp men kháng viêm và vitamin C,rất hữu ích cho người bị đau khớp.Về phía các loại rau thì đặc biệt dòng rau cải như cải xoăn,cải thìa hay rau bina rất tốt cho người bị các bệnh về xương khớp.
Rau quả tốt cho sức khỏe và xương khớp

Giá đỗ
Giá đỗ là những mầm đỗ còn non,ăn rất mát,có tác dụng thanh nhiệt.Ngoài ra thì trong giá đỗ còn chứa  Phyto-oestrogen (Hormone Oestrogen thực vật), đặc biệt là Isoflavon giúp người bệnh giảm hẳn lo lắng về quá trình loãng xương, nhất là ở giai đoạn mãn kinh - giai đoạn xương mỏng đi nhanh chóng và nguy cơ gãy xương ngày càng tăng cao.
Giá đỗ

Cuối cùng là Trà xanh
Khoa học đã chứng minh rằng trà xanh rất tốt cho người bị ung thư,và đặc biệt ngăn ngừa và làm giảm nguy cơ ung thư hiệu quả.
Đồng thời trà xanh cũng là thức uống chống oxy hóa hiệu quả,chính vì vậy mà nó ngăn ngừa oxy hóa xương khớp rất tốt.
Một lưu ý cho bạn là không nên uống quá nhiều trà xanh một ngày vì nó có thể làm bạn bị buồn nôn,khó thở hay gọi chung là say nước chè.
Nước trà-hay nước chè


Share:

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Đau lưng lâu ngày dẫn đến thoát vị đĩa đệm???

Đau lưng nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thậm chí là mất vận động chi dưới.

Trong khi các đồng nghiệp người khổ vì béo bụng, người thì bệnh trĩ, khô mắt… bởi làm công việc văn phòng thì chị Hường (35 tuổi, Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội) lại phải thường xuyên đối phó với những cơn đau tưởng chừng như gãy lưng mỗi ngày.

Đã 2 tháng nay, dù đang làm việc, đi chơi hay đang ngủ chị đều cảm thấy đau mỏi toàn thân, khó chịu, bực dọc. Lúc đầu chỉ là cảm giác hơi đau, sau đó cơn đau càng tăng dần, rồi lan tỏa xuống cả phần hông, gây tê bì, khiến chị bứt dứt cả ngày không yên, làm việc không hiệu quả mà vui chơi cũng không được trọn vẹn.

Mặc dù cố gắng tìm hiểu thông tin trên mạng để tìm cách khắc phục như ngồi làm việc đúng tư thế, vận động thường xuyên nhưng dường như tất cả đều không có hiệu quả. Không chịu nổi nỗi thống khổ này thêm nữa, chị quyết định đi khám thì được bác sĩ chẩn đoán đau lưng mạn tính.

Nguy cơ thoát vị đĩa đệm
Đau lưng là một trong những bệnh mà người làm việc văn phòng hay gặp phải, nó xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Bàn về vấn đề này, TS.BS Phạm Quang Thuận (Bệnh viện Thể thao Việt Nam) cho biết: “Các nguyên nhân dẫn đến đau lưng bao gồm: Ngồi lâu không thay đổi tư thế, ngồi không thẳng lưng, mang giầy cao gót đi đứng lâu, ít vận động thể lực, thay đổi tư thế xoay vặn người đột ngột, cúi để bê xách hoặc kéo đẩy vật nặng, vận động thể lực khi chưa có sự chuẩn bị hoặc khởi động tốt, thậm chí ngay cả khi nghỉ ngơi không đúng (nằm gối đầu cao, nửa nằm nửa ngồi quá lâu trong phòng lạnh) cũng gây đau lưng”.

Mặc dù đau lưng gây ra khá nhiều bất tiện cho cuộc sống, tuy nhiên, không phải ai cũng chú ý đến những dấu hiệu nhỏ để khắc phục ngay từ khi bệnh mới khởi phát. Bác sĩ Thuận cho biết: “Có nhiều trường hợp chỉ sau một động tác cúi hay xoay người đột ngột dẫn đến xuất hiện đau vùng thắt lưng, có thể dữ dội ngay hoặc có thể từ nhẹ tăng dần trong vài giờ làm cho người bệnh khó khăn trong sinh hoạt, công việc, vận động, thậm chí ngay cả ngồi, nằm cũng đau. Nếu lúc ấy, kịp thời đi khám, bệnh sẽ khỏi ngay sau một vài ngày dùng thuốc, nhưng hầu hết mọi người thường chỉ chọn giải pháp là nghỉ ngơi. Lúc đầu, các triệu chứng có vẻ thuyên giảm, song sẽ để lại nhiều biến chứng về sau”.

Cũng theo bác sĩ Thuận, tình trạng đau lưng kéo dài nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến đau lưng mạn tính làm cho người bệnh luôn cảm thấy đau mỏi, khó chịu. “Nặng nề hơn cả là tình trạng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, gây chèn ép rễ thần kinh, người bệnh sẽ thấy đau thắt lưng, lan tỏa xuống mông, đùi và chân, có thể kèm tê bì chi dưới. Nhiều trường hợp nặng đau ngay cả khi nghỉ ngơi, tăng khi ho, hắt hơi, khi thay đổi tư thế, vận động cột sống, khi đi đứng. Kéo dài có thể dẫn tới teo cơ chi dưới, làm giảm và thậm chí mất vận động chi.” – bác sĩ Thuận khuyến cáo.

Chớ lười vận động
Với những người đã và đang bị đau lưng, đặc biệt là đau vùng thắt lưng, bác sĩ Thuận khuyến cáo cần đi khám để được chẩn đoán chính xác, được tư vấn và điều trị đúng. Có nhiều phương pháp điều trị tùy thuộc vào mức độ, tính chất của tổn thương, cơ bản là giảm tải cột sống (nằm nghỉ), thuốc giảm đau, giãn cơ, bổ thần kinh cơ, tác động vùng cột sống như châm cứu, bấm huyệt, vật lý trị liệu….

“Với những người đã từng bị đau thắt lưng phải tập thói quen lao động, làm việc, sinh hoạt đúng (tránh cúi lâu, không cúi mà nên ngồi xổm dùng lực của hông, đùi để nhặt hay nâng vật nặng; đạp xe, bơi thay cho việc chạy bộ, đi bộ….), hay dùng các phương tiện hỗ trợ cột sống như đai thắt lưng, áo cột sống nếu đã bị thoát vị đĩa đệm.” - bác sĩ Thuận cho biết.

Bên cạnh đó, những người mắc bệnh đau lưng cần có các hoạt động thể lực hoặc tập luyện để điều trị và thích nghi với tình trạng bệnh. Nhưng tập luyện như thế nào? Thời gian bao lâu? Các động tác, bài tập nào? Cường độ, tần số? Thời điểm nào của bệnh thích hợp với loại hình vận động nào? Đó là những vấn đề không hề đơn giản bởi nếu thực hiện sai không những không có tác dụng điều trị mà thậm chí có thể làm bệnh tiến triển nặng thêm. Vì vậy, “đơn” tập luyện phải phù hợp với từng đối tượng, từng bệnh cụ thể, hơn thế nữa còn cần phù hợp với từng giai đoạn của bệnh. Thế nên, người bệnh cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ để có phác đồ điều trị cụ thể kết hợp với luyện tập hợp lý.

Để ngăn ngừa đau lưng, bác sĩ Thuận khuyên mọi người, đặc biệt là những người làm việc văn phòng cần có tư thế làm việc, sinh hoạt thích hợp như ngồi thẳng lưng, lựa chọn bàn ghế có độ cao phù hợp sao cho người thoải mái, đồng thời thường xuyên thay đổi tư thế, vận động nhẹ nhàng sau mỗi giờ làm việc.
Share:

Phẫu thuật chữa thoát vị đĩa đệm thành công ở Việt Nam

Tôi có cậu em trai năm nay 35 tuổi,là giáo viên dạy hội họa của một trường cấp 2.Bản tính vui vẻ hoạt bát,siêng năng chăm chỉ.Cũng chính vì chăm làm mà thường hay mang vác nặng,luôn là người tranh hết những việc nặng nhọc về phần mình nên dù đang ở cái độ tuổi sung sức của thanh niên thì em ấy đã bị thoát vị đĩa đệm.Đau lưng triền miên nhưng không nghĩ rằng đương trai tráng thế này mà đã bị căn bệnh quái ác như thế.Em tôi 35 tuổi tự thấy mình là gánh nặng cho người khác nên dù đã đến cái tuổi xây dựng mái ấm gia đình từ rất lâu rồi nhưng vẫn một mực không lấy vợ.
 Thế nhưng một điều may mắn,một tin vui cho em tôi cũng như cho những bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm là hiện nay đã có thể phẫu thuật thay thế sụn nhân tạo.Và hiện đã có rất nhiều người được phẫu thuật thành công.
Tin vui đến với bệnh nhân thoát vị đĩa đệm là vào một buổi trưa 18/12, khoa Phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội tiến hành phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo thành công cho một nữ bệnh nhân hơn 40 tuổi người Ninh Bình.

Bệnh nhân này bị thoát vị đĩa đệm từ năm 2000, từ đó đến nay ròng rã điều trị bằng tây y có,đông y có, thậm chí có những đợt tiêm trực tiếp vào đĩa đệm cột sống 12 ngày liên tục nhưng kết quả vẫn đâu vào đấy,vẫn là những cơn đau dai dẳng,triền miên.

Theo phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thạch, trưởng khoa Phẫu thuật cột sống, đây là bệnh nhân thứ hai tại Việt Nam được chỉ định thay đĩa đệm nhân tạo. Trước đó vào năm 2013, Việt Nam đã thực hiện được 1 ca với sự hỗ trợ của giáo sư người Pháp.

Phỏng vấn phó giáo sư Nguyễn Văn Thạch giáo sư cho biết"Chúng ta đi sau Pháp khoảng 10 năm về kĩ thuật thay đĩa đệm nhân tạo. Tuy nhiên sau 3 năm tập huấn, chuẩn bị, hiện các bác sĩ tại Việt Đức đã hoàn toàn làm chủ được kĩ thuật này và có thể thực hiện thường quy".

Ông cho biết thêm để thay thế đĩa đệm nhân tạo trên thế giới đã mất 50 năm nghiên cứu. Trước đây thì các mảnh ghép đĩa đệm được chỉ định cho các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm, tuy nhiên kết quả mang laị không khả quan cho lắm, các bệnh nhân vẫn rất khó vận động, chưa kể mỗi năm có khoảng gần 2% bệnh nhân bị hỏng phần đĩa đệm liền kề,cho nên phương án này đã bị loại bỏ.

Với phương pháp phẫu thuật lần này là dùng đĩa đệm nhân tạo, đĩa đệm nhân tạo do có kết cấu đặc biệt gồm nắp trên, thớt dưới, hai mặt bằng titan và ở giữa là silicon giúp đàn hồi nên sau phẫu thuật, các chức năng cột sống của bệnh nhân hoàn toàn bình thường.Bệnh nhân có thể đi lại và sinh hoạt bình thường.

Cũng theo PGS Thạch việc thay đĩa đệm cột sống lưng khá phức tạp vì do đây là cơ quan chịu hoàn toàn tải trọng cơ thể. Khi phẫu thuật, các bác sĩ sẽ đi từ ổ bụng do đó phải thao tác khéo léo để tránh tổn thương nội tạng.

"Tất cả những bệnh nhân thoái hóa đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm hoặc đĩa đệm xẹp xuống mất chức năng do điều trị nội khoa thất bại đều được chỉ định thay đĩa đệm nhân tạo. Điều quan trọng khi phẫu thuật phải cẩn thận lấy hết đĩa đệm cũ, nếu không đóng đĩa đệm nhân tạo sẽ chèn vào tủy sống gây đau đớn hoặc liệt", PGS Thạch nhấn mạnh.

Đặc biệt, chi phí điều trị theo phương pháp này chỉ khoảng 50 triệu đồng - rẻ nhất thế giới, trong khi chi phí ở Mỹ, Hàn hay Singapore đắt gấp 6-7 lần.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ không cần phải thay lại. Trên thế giới chưa ghi nhận trường hợp nào bị đào thải hay dị ứng sau phẫu thuật.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch cho biết, hiện tỉ lệ thoát vị đĩa đệm tại Việt Nam rất lớn, chủ yếu là thoát vị đĩa đệm thắt lưng. Tuy nhiên hầu hết các bệnh nhân khi đến khám đều đã ở giai đoạn nặng do điều trị thuốc trong nhiều năm.
Tìm hiểu thêm về thoái hóa khớp 
Share:

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Thoái hóa khớp bàn tay

Nhiều người thường chủ quan rằng khớp bàn tay bị thoái hóa chỉ xảy ra ở những người không làm việc hoặc bắt tay làm việc quá nhiều hay chỉ xảy ra với những người lớn tuổi,tuy nhiên điều đó hoàn toàn là không chính xác,khớp bàn tay bị thoái hóa bởi rất nhiều nguyên nhân và ở các độ tuổi khác nhau đều có thể bị mắc bệnh.Đặc biệt phụ nữa lại là những người dễ mắc bệnh thoái hóa khớp bàn tay nhất
Ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay chiếm tỉ lệ khá cao với khoảng 14% trong tổng số các loại thoái hóa khớp,nó đứng vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng tỷ lệ mắc thoái hóa khớp thường gặp. Nguyên nhân của thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay chủ yếu là tuổi tác. Tuổi càng cao càng dễ bị thoái hóa khớp bàn tay ngón tay nguyên do là lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp ngày một bị ít đi, càng làm cho sự lão hóa sụn khớp càng rõ và do tuổi tác cũng làm cho các mô sụn hay các chất bôi trơn khớp gối bị khô cứng dần đi. Ngoài ra, thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi còn có thể do tiền sử mắc một số bệnh ở bàn tay như: đã từng bị chấn thương, gãy xương khớp hoặc hoại tử xương hay viêm khớp dạng thấp còn có nhiều khớp khác cùng bị viêm, hay với một số người là do bệnh gút mãn tính. Với một số người thì đái tháo đường cũng khiến thoái hóa khớp xuất hiện bởi thiếu canxi…

thoai hoa khop ban tay
Thoái hóa khớp tay ở người già

Ở nữ giới thì còn có nguyên nhân do giảm lượng hoóc-môn sinh dục nữ dẫn đến sự thay đổi tế bào sụn khớp cũng gây nên thoái hóa. Vì vậy, thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay nữ chiếm tỉ lệ đến  3/4 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay (75%). Do đó, phụ nữ là những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình với công việc nội trợ như thường xuyên phải giặt giũ, lau nhà, nấu nướng…càng khiến dễ mắc bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay
Khi mắc bệnh thì biểu hiện của bệnh được nhân thấy là gai xương,hẹp khe khớp,đặc xương dưới sụn,hốc xương.        
Triệu chứng thường gặp ở thoái hóa khớp bàn tay là đau khớp,Có thể cơn đau chỉ xảy ra ở một bên bàn tay hoặc ở một số khớp trên ngón tay mà không phải ở cả bàn tay.Những cơn đau có thể xảy ra khi cử động các khớp tay đấy là với những người bị nhẹ,và đau nhức ngay cả khi các khớp tay không cử động đối với những người bị nặng hơn.
Một biểu hiện khá rõ ràng của bệnh nữa là việc cử động các khớp tay là khó khắn do bị cứng khớp vào sáng sớm lúc chúng ta ngủ dậy,bởi sau một đêm tay không hoạt động với những người bị thoái hóa khớp thì các khớp sẽ bị cứng đơ như vậy.
ð  Hậu quả của việc thoái hóa khớp tay là những cơn đau dai dẳng,là những lúc cầm nắm đồ vật nhưng không chắc chắn dễ gây rơi vỡ,ngón tay thì bị tiêu nhỏ dần hoặc các ngón tay bị biến dạng.
Cách phòng tránh và chưa trị thoái hóa khớp bàn tay là:
Bổ sung canxi cho xương khớp.
Khi nghi ngờ bị thoái hóa khớp bàn tay thì nhanh chóng đến bệnh viện để khám và điều trị kịp thời.
Một trong số những loại thuốc giúp điều trị tốt thoái hóa khớp đó là Glucosamine.

thoai hoa khop ban tay
Glucosamine




Share:

Thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa đối sống cổ cũng là một loại thoáihóa khớp,còn được gọi là thoái hóa đốt sống cổ hay thoái hóa cột sống lưng.Gây là tình trạng thoái hóa ở xương cột sống-bộ phận giúp con người đứng thẳng.Thoái hóa đốt sống cổ gây ra rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và đặc biệt gây ra nhiều đau đớn cho người mắc bệnh.

thoai hoa dot song co
Thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa cột sống cổ là một trong những căn bệnh phổ biến của xã hội. Thoái hóa đốt sống cổ và lưng không chỉ gặp ở những người già mà còn ở cả những người trẻ thường làm việc trong văn phòng, ít vận động hoặc phải cúi nhiều.Thoái hóa đốt sống cổ cũng là căn bệnh thường gặp ở những người phải sử dụng nhiều động tác ảnh hưởng đến vùng đầu cổ.
 Các dấu hiệu điển hình của bệnh mà dễ  nhận thấy nhất là cổ cứng nhắc khó xoay chuyển kèm với dấu hiệu đau.Ban đầu là đau cổ sau đó vùng đau sẽ  lan xuống vai rồi đau ở các khớp cổ và vai, ngoài ra còn gây đâu đầu nữa…
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đều gặp cả hai giới nam và nữ gần như ngang nhau.

    Từ những điều trên cho thấy rằng thoái hóa đốt sống cổ là một bệnh mà bệnh nhân mắc phải không phân biệt nam nữ,không phân biệt tuổi tác,và người mắc phải không phân biệt là làm việc nặng nhọc hay chỉ là dân văn phòng-ngồi bàn giấy.

   Vậy nguyên nhân của căn bệnh này là từ đầu hãy cùng chúng tôi đi tìm nguyên nhân và phương biện pháp ngăn ngừa căn bệnh quái ác nhiều đau đớn này.
-     
                  Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ chính là do tư thế ngồi của chúng ta.Tư thế ngồi không đúng lâu ngày khiến cho đốt sống cổ trở nên lệch lạc khỏi vị trí vốn có của nó,khiến các khớp xương bị xê dịch sai khác.Không những ngồi sai mà thậm chí việc chúng ta ngồi làm việc lâu,tư thế đầu và cổ ít thay đổi,cũng dẫn đến mỏi vùng cổ và lâu ngày thành thoái hóa đối sống cổ.

-               Tiếp theo là chấn thương vùng cổ.Những người mà không may bị tai nạn,ngã hay   là do một sự cố bất ngờ gì đó mà ảnh hưởng đến vùng cổ như bong gân,giãn dây chằng,hay là gãy xương cổ… gây ra những cơn đau ở cùng cổ cũng chính là nguyên nhân gây ra đau cổ.
-                  Một nguyên nhân không thể tránh khỏi ở tất cả mọi người đó là tuổi tác.Vì sao ư? Rất đơn giản,khi con người ta già đi tất cả các bộ phận trong cơ thể đều bị lão hóa dần,xương không là ngoại lệ.Chính vì thế mà đốt sống cổ cũng lão hóa theo.Các đốt sống cổ cũng như xương khớp chỗ khác cũng sẽ có những triệu chứng đau mỏi.
-                  Một nguyên nhân khác rất phổ biến ở Việt Nam chúng ta đó chính là chế độ dinh dưỡng.Việt Nam chúng ta còn nghèo nên chế độ ăn uống có thiếu chất dinh dưỡng rất nhiều,gây ra loãng xương và dẫn tới thoái hóa xương.Bên cạnh đó thì chế độ dinh dưỡng đầy đủ nhưng không cân đối cũng khiến thoái hóa bởi vì việc ăn nhiều mà không hợp lý sẽ dẫn tới tình trạng béo phì,gây ra sự chèn ép quá lớn tới xương khớp.
Triệu chứng thường thấy ở thoái hóa đốt sống cổ thường là đau,mỏi tuy nhiên không phải cứ đau mỏi là đốt sống cổ đã bị thoái hóa đâu nhé,mà chỉ khi những triệu chứng sau xảy ra thì bạn nên luôn và ngay đi khám để được điều trị kịp thời nhé:
-       Các động tác cổ bị vướng và đau; có thể thỉnh thoảng bị vẹo cổ.
-       Cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới tư thế đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên.
-       Khám chỉ thấy các cử động ở cổ bị hạn chế (nặng); có thể cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ, chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.
-       Với chứng thoái hóa đốt sống cổ ở cao (đoạn C1- C2 - C4), người bệnh còn có triệu chứng nấc, ngáp, chóng mặt.
Cách phòng và tránh thoái hóa đốt sống cổ:
-       Ngồi đúng tư thế,không để lệch đốt sống cổ quá lâu,và dù ngồi đúng tư thế thì bạn cũng không nên ngồi lâu mà phải để cổ quay trái quay phải một chút.
-       Thường xuyên tập thể dục thể thao,đặc biệt là đối với cổ.
thoai hoa dot song co
Tập thể dục thế thao

-       Không mang vác nặng,hay giữ nguyên một tư thế đối với cổ quá lâu.
-       Có chế độ dinh dưỡng hợp lý,tăng cường bổ sung canxi cho xương.



Share:

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Thực hư việc chưa viêm khớp bằng Vitamin D



Vitamin D
Vitamin D
  
Vitamin D là một trong những vitamin khác so với các loại vitamin khác. Ở điều kiện bình thường đây là loại vitamin mà cơ thể có thể tự tổng hợp được nhờ da dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời. Chỉ cần phơi nắng khoảng 10 phút là cơ thể bạn sẽ tự tổng hợp ra Vitamin D đủ dùng cho ngày. Vitamin D có vai trò trung gian trong quá trình tổng hợp canxi máu. Vitamin D là làm tăng canxi máu, tăng phospho máu, tăng thải canxi niệu và tác dụng chủ yếu trên 3 cơ quan chính  của cơ thể con người.Và đặc biệt nhất và tiêu biểu nhất là tác dụng lên xương.Vitamin D có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, giữ cho xương chắc khỏe phòng  chống lại các căn bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đại tràng. Nếu thiếu vitamin D thì cơ thể không thể hấp thu canxi và phospho trong thức ăn, dẫn đến lượng canxi và phospho trong máu giảm, xương dễ trở nên xốp và giòn, trẻ em có thể dẫn đến còi xương, người lớn nhất là phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh dễ bị loãng và nhuyễn xương. Các hãng sữa nhấn mạnh hàm lượng calcium trong sữa có khả năng làm xương chắc khỏe tuy nhiên nếu thiếu Vitamin D thì bạn có uống sữa nhiều đến mấy vẫn cứ bị loãng xương như thường. Ở các nước nhiệt đới rất ít khi bị mắc bệnh thiếu vitamin D do khả năng tổng hợp vitamin D của da dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời.
Chính những tác dụng này của vitamin D mà có rất nhiều người đã nhầm lẫn rằng vitamin D có thể chữa khỏi viêm khớp.
Tuy nhiên các nhà khoa học đã chứng minh rằng điều đó là không phải.
Các nhà khoa học từ Đại học Tasmania (Úc) khảo sát ở 413 bệnh nhân được chia làm 2 nhóm, một nhóm bổ sung vitamin D và nhóm còn lại dùng giả dược.
Sau hai năm, các nhà nghiên cứu kiểm tra lại những người tham gia và nhận thấy không có sự khác biệt rõ rệt trong thoái hóa khớp gối giữa các nhóm.
Các chuyên gia cho rằng vitamin D và dầu cá, cả hai được cho có tác dụng trì hoãn mất sụn ở đầu gối và làm giảm viêm, không có tác động đối với chứng viêm xương khớp đầu gối,.
Viêm khớp gối ảnh hưởng đến khoảng 10% nam giới và 13% phụ nữ trên 60 tuổi.
“Phát hiện này cho thấy thiếu bằng chứng để chứng minh rằng bổ sung vitamin D làm chậm tiến triển của bệnh hoặc giảm đau đầu gối ở bệnh nhân thoáihóa khớp”, trưởng nhóm nghiên cứu Ding Changhai cho biết.


 Tuy nhiên việc sử dụng Glucosamine lại có tác dụng rất tốt trong việc điều trị và hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp.Các bạn có thể tìm hiểu về Glucosamine tại :
http://muabanthuoconline.vn/index.php/thuc-pham-chuc-nang/glucosamine
Share:

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Chữa thoái hóa khớp gối bằng phương pháp ghép sụn tự thân

Ngày nay nhờ công nghệ hiện đại mà nhiều phương pháp chữa bệnh mới đã ra đời,không gây đau đớn nhiều cho bệnh nhân,không để lại sẹo và đặc biệt là hiệu quả bất ngờ.
Ở bệnh lý thoái hóa khớp hàng chục bệnh nhân đã tránh khỏi được nguy cơ phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo nhờ kỹ thuật ghép sụn xương tự thân.
Các bệnh nhân đã tránh được nguy cơ đối diện với ca phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo nhờ kỹ thuật ghép sụn sương tự thân điều trị khuyết sụn khớp gối qua phẫu thuật nội soi.
Đây sẽ là vị cứu tinh cho rất nhiều người bởi tỷ lệ nam nữ trung niên, thanh niên mắc phải chứng thoái hóa khớp gối ngày càng gia tăng rất nhiều như hiện nay.


Thoái hóa khớp gối
Thoái hóa khớp gối
Nhiều bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối độ IV,khuyết sụn ở lồi cầu trong vùng chịu lực.Triệu chứng là đau kéo dài và đi lại khó khắn.Và phương pháp chữa bệnh mà được bác sĩ chẩn đoán là thay khớp gối nhân tạo.Tuy nhiên tuổi thọ của khớp gối nhân tạo lại chỉ được từ 10 đến 15 năm,như vậy là sẽ phải đi mổ lại một lần nữa.
Và thật may mắn là công nghệ “Ghép sụn xương tự thân điều trị khuyết sụn khớp gối qua phẫu thuật nội soi”. Chi phí phẫu thuật chỉ 15 triệu đồng, bằng 1/5 chi phí thay khớp gối nhân tạo. Quan trọng hơn cả là không phải thay khớp gối.  Chỉ sau sáu tuần, bệnh nhân đã có thể đi lại, không còn đau, sinh hoạt bình thường.
 BS Trưởng khoa - Bùi Hồng Thiên Khanh, phấn khởi cho biết: phương pháp này thực sự có ý nghĩa bởi giúp điều trị sớm căn bệnh thoái hóa khớp cho BN trẻ tuổi và trung niên; giúp người bệnh không phải đối diện với ca phẫu thuật thay khớp nhân tạo; trở về với sinh hoạt bình thường; kéo dài tuổi thọ của khớp gối.
Tuổi thọ dân số ngày càng tăng, vì vậy nếu còn trẻ (dưới 55-60 tuổi) mà phải thay khớp gối nhân tạo thì hầu hết sẽ phải thay lần hai (nếu còn sống và có điều kiện). Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại, biến chứng ở lần thay thứ hai lại rất cao.
Cụ thể như: sau khi thay, khớp xương bị lỏng, bị đau nhiều hơn trước; thậm chí có thể không thay được. Phẫu thuật thay khớp giả là loại phẫu thuật lớn, xâm lấn nhiều và kéo dài nhiều giờ. Chức năng của khớp giả cũng không thể bằng khớp thật, hầu như không thể chạy bộ trở lại.
Việc ghép sụn tự thân được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi, giảm thiểu tối đa tổn thương cho người bệnh. Thời gian mổ từ 30-60 phút, người bệnh được gây tê tủy sống chứ không cần gây mê. Sau khi đánh giá đầy đủ thương tổn, bác sĩ sẽ tiến hành “dọn dẹp” vùng thoái hóa (lấy các dị vật, mài các chồi xương, cắt lọc gọn các tổn thương sụn). Một bộ dụng cụ riêng biệt sẽ được dùng để lấy và ghép sụn cho bệnh nhân.
Những lưu ý sau khi cấy ghép sụ tự thân:
Để đảm bảo việc ghép sụn đạt tỷ lệ thành công cao, sau khi phẫu thuật, người bệnh không chống chân đau trong sáu tuần đầu; vận động khớp sớm phòng ngừa cứng khớp gối; chống chân tăng dần sau sáu tuần; không tăng cân, thậm chí cần giảm cân…
Và để tăng cường khả năng hồi phục thì bệnh nhân nên sử dụng các thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp.Điển hình là sử dụng dược phẩm chức năng Glucosamine của Mỹ.Glucosamine là một amino-mono-saccharide có trong mọi mô của cơ thể con người. Glucosamine được cơ thể dùng để sản xuất ra các proteoglycan. Những phân tử proteoglycan này hợp với nhau thành mô sụn. Nguồn cung cấp để tổng hợp Glucosamine lấy từ glucose trong cơ thể.
Glucosamine
Glucosamine

Trong các khớp bị viêm, lớp mô sợi của bao khớp và màng hoạt dịch làm giảm sự khuếch tán glucose vào mô sụn. Hơn nữa hiện tượng viêm trong khớp đã tiêu thụ lượng glucose có giới hạn của cơ thể. Chính vì thế có sự thiếu hụt Glucosamine.

Lúc này, Glucosamine sulfate ngoại sinh là nguồn cung cấp tốt nhất cho sự sinh tổng hợp các proteoglycan. Người ta thấy Glucosamine sulfate có ái lực đặc biệt với các mô sụn, nó còn giúp ức chế các men sinh học như stromelysin và collagenase gây phá hủy sụn khớp.
Nghiên cứu lâm sàng trên thỏ con, người ta thấy Glucosamine sulfate chỉ làm tăng thành phần các proteoglycan trong các vị trí mô sụn hư cần phải sửa chữa mà không có tác dụng tương tự trên phần sụn khớp bình thường.

Share:

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Thử nghiệm lâm sàng với Glucosamine chữa thoái hóa khớp

Ðã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm so sánh với các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), cho kết quả như sau:
1. Cải thiện triệu chứng viêm khớp như đau, tầm độ khớp tương đương với NSAID trong thời gian ngắn và càng vượt trội hẳn nếu uống thuốc thời gian càng dài.
2. Tính an toàn hơn hẳn với các loại NSAID luôn luôn có rất nhiều tác dụng phụ kèm theo.
3. Người ta dùng phối hợp Glucosamine và NSAID cho kết quả tốt hơn khi dùng đơn độc NSAID trong thời gian ngắn. Sau đó ngưng NSAID, tiếp tục sử dụng Glucosamine thì tình trạng cải thiện vẫn tiếp tục được duy trì theo kiểu tuyến tính.
4. Người ta thấy dùng NSAID, những ích lợi giảm triệu chứng cho bệnh nhân sẽ nhanh chóng mất đi ngay sau khi ngưng thuốc. Ngược lại, ngưng uống Glucosamine tác dụng vẫn tiếp tục kéo dài trong nhiều tháng sau đó.
5. Với những bệnh nhân thoái hóa khớp tuân thủ phác đồ điều trị dùng Glucosamine càng dài thì lợi ích kinh tế càng lớn vì tính an toàn và hiệu quả của nó càng được phát huy.

Glucosamine
Thực phẩm chức năng Glucosamine 

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Uống 1-2 viên ngày cùng hoặc sau bữa ăn.
Lưu ý: Glucosamin không dùng cho trẻ dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Người có dị ứng với tôm cua, sò, ốc, hến và hải sản không nên dùng glucosamin. Cần thận trọng khi sử dụng glucosamin cho những người cảm cúm, bệnh nhiễm khuẩn tai - mũi - họng. Glucosamin là một đường amino nên bệnh nhân đái tháo đường hay người bị hạ đường huyết cần thận trọng khi sử dụng glucosamin và phải theo dõi đường huyết thường xuyên
Viên glucosamine hộp 375 viên có 2 màu trắng đục và trắng ngà chất lượng như nhau.
Tác dụng giảm đau thường có sau khoảng 10 ngày dùng. Vì thế người ta có khuynh hướng kết hợp với NSAID trong tuần lễ đầu tiên, sau đó ngưng NSAID và tiếp tục sử dụng Glucosamine sulfate.
Glucosamine và MSM là 1 hợp chất bổ hiệu quả trong việc hỗ trợ khả năng vận động, bôi trơn các khớp, duy trì trạng thái khỏe mạnh cho sụn và các tế bào xương. Glucosamine là thành phần cơ bản cấu tạo nên sụn, hoạt dịch và xương. Glucosamine rất cần thiết cho việc duy trì trạng thái khỏe mạnh, toàn vẹn của cấu trúc, chức năng của sụn và tối ưu hóa quá trình vận động.
Share:

Điều trị thoái hóa khớp bằng thực phẩm chức năng Glucosamine


GLUCOSAMIN và thoái hóa khớp
Glucosamine
GLucosamine
Thoáihóa khớp là bệnh khá phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là ở người trung niên và cao tuổi. Thoái hóa khớp có biểu hiện lâm sàng bởi đau khớp và cột sống mãn tính, không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm, những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch. Nguyên nhân chính của bệnh là quá trình lão hóa và tình trạng chịu áp lực quá tải và kéo dài của sụn khớp. Bệnh gây đau các khớp buổi sáng, viêm khớp, hẹp khe khớp, mọc gai xương... làm giảm khả năng lao động và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Theo quan niệm Y học cổ truyền, do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong - Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc - cơ - khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân. Ngoài ra, chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày, hay do người già các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây nên đau.
Mặc dù chưa xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh cũng như tìm ra thuốc điều trị dứt điểm, nhưng hiện nay người ta đã tìm ra nhiều loại thuốc điều trị triệu chứng của bệnh cũng như nhiều biện pháp phòng tránh phòng chống quá trình thoái hóa, giúp cải thiện chức năng vận động và làm giảm quá trình tổn thương, hạn chế các biến chứng bất lợi của bệnh.
Các nhóm thuốc được sử dụng để điều trị thường là các thuốc kháng viêm giảm đau không streroid nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp cho người bệnh. Tuy nhiên chúng lại gây ra nhiều tác dụng phụ trên nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể đặc biệt là đường tiêu hoá như loét dạ dày, chảy máu dạ dày… và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp bị hư hỏng, tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu chỉ nhằm giảm bớt hiện tượng viêm và giảm các cơn đau.
Glucosamin là loại thuốc tương tác lên bệnh lý của sụn khớp một cách hiệu quả mang giảm các triệu chứng đau, cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp lại không mang lại tác dụng phụ như các thuốc kháng viêm giảm đau không streroid khác; tương đối an toàn đối với người sử dụng;đã được cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMEA) chấp nhận đưa vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp
Glucosamin là một amin-monosaccharide, nguyên liệu để tổng hợp proteoglycan và kết quả tổng hợp nên mucoplysaccharide, thành phần cơ bản cấu tạo nên sụn khớp. Có 3 dạng glucosamin được hỗ trợ sử dụng trong hỗ trợ điều trị viêm xương khớp là glucosamin sulfate, glucosamin hydrocloride, N cetylglucosamin. Glucosamin còn kích thích sinh sản mô liên kết của xương, giảm quá trình mất calci của xương. Như vậy, glucosamin làm tăng khả năng sản xuất chất nhầy dịch khớp nên tăng độ nhớt, tăng khả năng bôi trơn của dịch khớp, làm chậm quá trình thoái hóa của xương khớp, cải thiện chức năng vận động của xương khớp, phục hồi cấu trúc sụn khớp, ngăn chặn các tiến triển của các bệnh xương khớp. Nhờ đó glucosamin không chỉ làm giảm đau tốt mà còn điều trị tận gốc nguyên nhân của viêm xương khớp. 
Kết hợp với tập thể dụng, sử dụng glucosamin cho bạn một cơ thể rắn chắc, khỏe mạnh, không còn nỗi lo đau nhức khớp.

GLUCOSAMINE LÀ GÌ?
Glucosamine là một amino-mono-saccharide có trong mọi mô của cơ thể con người. Glucosamine được cơ thể dùng để sản xuất ra các proteoglycan. Những phân tử proteoglycan này hợp với nhau thành mô sụn. Nguồn cung cấp để tổng hợp Glucosamine lấy từ glucose trong cơ thể.
Trong các khớp bị viêm, lớp mô sợi của bao khớp và màng hoạt dịch làm giảm sự khuếch tán glucose vào mô sụn. Hơn nữa hiện tượng viêm trong khớp đã tiêu thụ lượng glucose có giới hạn của cơ thể. Chính vì thế có sự thiếu hụt Glucosamine.

Glucosamine của Mỹ
Glucossamine của Mỹ
Lúc này, Glucosamine sulfate ngoại sinh là nguồn cung cấp tốt nhất cho sự sinh tổng hợp các proteoglycan. Người ta thấy Glucosamine sulfate có ái lực đặc biệt với các mô sụn, nó còn giúp ức chế các men sinh học như stromelysin và collagenase gây phá hủy sụn khớp.
Nghiên cứu lâm sàng trên thỏ con, người ta thấy Glucosamine sulfate chỉ làm tăng thành phần các proteoglycan trong các vị trí mô sụn hư cần phải sửa chữa mà không có tác dụng tương tự trên phần sụn khớp bình thường.

ỨNG DỤNG TRÊN LÂM SÀNG
Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp viêm cho người bệnh. Tuy nhiên những thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp bị hư hỏng. Vì vậy tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu chỉ nhằm giảm bớt hiện tượng viêm, cắt cơn đau tạm thời mà thôi.
Ðến vài năm gần đây, người ta đã tìm ra một số loại thuốc tương tác lên bệnh lý của sụn khớp một cách hiệu quả, trong đó có Glucosamine. Thực tế lâm sàng cho thấy nó mang lại nhiều ưu điểm trong điều trị hơn hẳn các thuốc  NSAID.

Bệnh thoái hóa khớp

Ưu điểm lớn nhất ghi nhận được đến nay là có rất ít tác dụng phụ khi sử dụng Glucosamine sulfate. Một vài trường hợp dị ứng không đáng kể đối với người có cơ địa quá mẫn cảm với thuốc.
Trước đây Glucosamine được xếp vào nhóm thuốc bảo vệ sụn (gồm có Glucosamine sulfate, Chondroitin sulfate và Diacerin) hay thuốc tác dụng chậm với các bệnh viêm khớp. Hiện nay nó được cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMEA) chấp nhận xét vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp. Các loại khác chưa được chấp nhận vì không đáp ứng được các yêu cầu thực nghiệm lâm sàng.



Share:

Đi tìm nguyên nhân,dấu hiệu và hướng điều trị thoái hóa khớp

Thoáihóa khớp là bệnh lý thoái hóa ở các khớp như khớp gối,khớp cổ tay hay thậm chí là các khớp ở côt sống.
Đây  là một loại bệnh lí diễn ra hết sức âm thầm nhưng sức công phá của nó lại vô cùng to  lớn.Đó là những cơn đau dữ dội về đêm,là bước chân nặng nề khi ban sáng.là sự cố gắng gượng dậy để đứng thẳng nhưng thực sự là rất khó khăn.

Thoái hóa khớp gối
Thoái hóa khớp gối

Khảo sát thực trạng bệnh:
Trong 50% dân số được phát hiện tình trạng thoái hóa xương - khớp trên phim chụp X-Quang, chỉ khoảng một nửa có triệu chứng lâm sàng. Nghĩa là rất nhiều người bị thoái hóa khớp nhưng lại không hề hay biết. Thoái hóa khớp là một trong những căn bệnh về khớp thường gặp nhất và là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tàn phế kéo dài ở những người trưởng thành tại Mỹ. Để thấy rằng ngay cả ở một cường quốc phát triển như Mỹ với chế độ chăm sóc sức khỏe được quan tâm rất nhiều thì tỉ lệ người mắc bệnh thoái hóa khớp cũng đã rất cao huống hồ gì với một cuốc gia còn đang phát triển như Việt Nam thì tỉ lệ này sẽ là rất nhiều nếu như chúng ta thống kê lại.Vậy đâu là nguyên nhân của bệnh lí này,hãy cùng chúng tôi đi tìm nguyên nhân,dấu hiệu và phương pháp điều trị để không còn những cơn đau kéo dài của thoái hóa khớp nữa nhé.
Đi tìm nguyên nhân của thoái hóa khớp:
Thoái hóa khớp không được phát hiện sớm do các triệu chứng ban đầu thường bị người bệnh chủ quan bỏ qua với suy nghĩ “chỉ người già mới mắc bệnh khớp”. Thực tế, có hơn 30% người trên 35 tuổi bị thoái hóa khớp. Và do không điều trị kịp thời, bệnh tiến triển ngày một nặng hơn. Thoái hóa khớp nguy hiểm vì không chỉ gây đau đớn mà còn ảnh hưởng đến chức năng vận động, sinh hoạt hàng ngày, làm giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí gây tàn phế ngay cả khi người bệnh chỉ mới bước qua tuổi trung niên. Bạn cần học cách nhận biết triệu chứng thoái hóa khớp và khắc phục ngay khi bệnh mới chớm. Dưới đây là các triệu chứng ở các vị trí thường gặp:
Thoái hóa cột sống thắt lưng: Triệu chứng khởi phát là đau âm ỉ vùng cột sống thắt lưng, có khi đau đột ngột do mang vác, khiêng xách nặng hay do sai tư thế. Các cơn đau có thể liên tục hoặc từng đợt, hay tái phát và thường đau tại chỗ, không lan xa, đau tăng khi thay đổi tư thế, khi vận động nhiều, khi thay đổi thời tiết… Khi nằm nghỉ, các cơn đau sẽ giảm nhẹ.
Thoái hóa cột sống cổ: Dấu hiệu lâm sàng của bệnh này là đau vùng cổ gáy cấp hoặc mãn tính, đau tăng khi mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, khi thay đổi thời tiết… Đi kèm với đau cổ là nhức đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai hố mắt thường đau vào buổi sáng. Có khi, bệnh nhân còn cảm thấy tê tay do đám rối thần kinh cánh tay bị chèn ép hoặc nhức đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, mờ mắt, nuốt vướng… do ảnh hưởng của động mạch đốt sống cổ.
Thoái hóa khớp gối: Triệu chứng rõ và dễ thấy nhất vẫn là những cơn đau, đau mặt trước hoặc trong khớp gối, đau tăng khi vận động, lên xuống bậc thang, ngồi xổm, gấp gối, thay đổi thời tiết… Khi di chuyển, người bệnh có thể nghe tiếng “lạo xạo” trong khớp gối. Thỉnh thoảng, khớp gối có thể bị cứng hoặc sưng to.
Hướng điều trị:
Bổ sung dinh dưỡng khớp gối
Bổ sung dinh dưỡng khớp

Khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu “cảnh báo” nào như trên, bạn cần áp dụng liệu pháp phục hồi xương khớp ngay lập tức. Chuyên gia xương khớp đầu ngành tại Mỹ cho biết thoái hóa khớp nếu phát hiện sớm có thể điều trị dứt điểm và an toàn bằng liệu pháp dinh dưỡng. Thực chất thoái hóa khớp do các thói quen có hại cho khớp, chế độ dinh dưỡng thiếu dưỡng chất cho khớp và quá trình lão hóa khiến sụn, dịch khớp và các dây chằng bị tổn thương. Liệu pháp bổ sung dinh dưỡng cho xương khớp được các chuyên gia hàng đầu thế giới khuyên dùng vì phương pháp này chữa lành tổn thương khớp theo cơ chế tự chữa trị và hồi phục của cơ thể, giúp giảm đau theo cơ chế tự nhiên, không gây tác dụng phụ.
Bổ sung dinh dưỡng khớp đồng nghĩa với việc cung cấp cho khớp nguồn dịch khớp bị hao hụt,  làm lành tổn thương sụn khớp, tăng lưu thông máu đến nuôi dưỡng khớp, các cơ liên kết và dây chằng. Nguồn dinh dưỡng này là sự kết hợp 3 thành phần chính được tìm thấy trong sụn khớp khỏe mạnh, cụ thể là:
Glucosamine: có tác dụng bảo vệ và tái tạo tế bào sụn khớp, tăng nuôi dưỡng sụn khớp. Glucosamine đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong những năm qua, đây là thành phần chính trong hầu hết đơn thuốc sử dụng cho bệnh nhân thoái hóa khớp. Glucosamine đã được cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA) đưa vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh khớp.

thực phẩm chức năng
Glucosamine hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp

Collagen Type II: cung cấp hai thành tố chính là chondroitin và hyaluronic acid, giúp tăng cường dịch nhầy bôi trơn ổ khớp và tăng nuôi dưỡng sụn, tăng khả năng đàn hồi của sụn và hạn chế quá trình phá hủy sụn do lão hóa hoặc lối sống thiếu khoa học.
MSM: một hoạt chất có công dụng giúp khớp thoái hóa vận động dễ dàng hơn và giảm đau.
Các dưỡng chất trên đều là thành phần cơ bản của sụn khớp. Tuy nhiên, nguồn thực phẩm hàng ngày chứa rất ít 3 dưỡng chất đặc trưng này. Bên cạnh đó, cơ thể con người cũng suy giảm chức năng sản xuất dịch khớp và sụn khớp do quá trình lão hóa. Vì thế, lời khuyên của các chuyên gia là nên bổ sung nguồn dưỡng chất “3 trong 1” kể trên thông qua các sản phẩm dinh dưỡng khớp theo đường uống. Đối tượng cần bổ sung là người cao tuổi, người bị thoái hóa khớp, dân công sở ở độ tuổi trung niên và người khỏe mạnh nhưng có ý thức cao về sức khỏe, muốn phòng ngừa bệnh khớp ngay khi còn trẻ.


Share:

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Viêm khớp dẫn đến Gout - Con đường quá ngắn

Ba giai đoạn kinh điển trong quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh gout là:

- Viêm khớp do gout cấp lâu ngày sẽ dẫn tới thoái hóa khớp

- Giai đoạn không triệu chứng giữa các đợt viêm khớp gout cấp 
- Tái phát mãn tính và nốt tophi   

Mức độ biểu hiện lâm sàng thường song song với tần số của các đợt gout cấp và cuối cùng là sự phát triển thành bệnh gout mãn tính với nốt tophi. Điều trị bằng thuốc hạ urate không giúp chữa lành bệnh, nhưng có thể thiết lập lại quá trình tiến triển của bệnh.


Hiện nay, với phương pháp điều trị hiệu quả, sự tiến triển của bệnh gout đến giai đoạn mãn tính thường ít thấy hơn ở các bệnh nhân gout tiên phát và thứ phát tuân thủ điều trị.


Bệnh tiến triển nặng thường xảy ra ở những bệnh nhân không tuân thủ điều trị, không được giải thích cặn kẽ kế hoạch điều trị, mắc bệnh gout nhưng không được chẩn đoán, điều trị thuốc hạ urate không đủ liều, sử dụng thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc hạ urate, và những bệnh nhân có ghép tạng.


1. Viêm khớp do gout cấp 


1.1 Lâm sàng


Viêm khớp do gout cấp thường xảy ra sau nhiều năm tăng acid uric máu không triệu chứng, biểu hiện lâm sàng của cơn gout cấp điển hình có các đặc điểm sau:     


- Sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội và mất chức năng khớp, các triệu chứng thường đạt cực đại trong vòng 12 đến 24 giờ. Cơn gout cấp đầu tiên hầu như luôn rút đi trong vòng vài ngày đến vài tuần, kể cả ở những bệnh nhân không được điều trị.


- Ít nhất 80% cơn gout cấp đầu tiên xảy ra ở một khớp duy nhất, và đó thường là ở khớp bàn ngón chân cái hoặc khớp gối.


- Phản ứng viêm có thể vượt ra ngoài ranh giới của khớp viêm, như viêm cạnh khớp, viêm bao gân, hoặc thậm chí viêm mô tế bào.


- Viêm khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân, khớp cổ tay, khớp bàn ngón tay, hoặc khớp khuỷu, có thể xảy ra trong cơn gout cấp đầu tiên nhưng thường gặp hơn trong các đợt tái phát ở giai đoạn sau. Những vị trí khác như khớp vai, khớp háng, khớp ức đòn, cột sống và khớp cùng chậu cũng có thể bị, gây nhầm lẫn trong chẩn đoán.


- Các đợt viêm khớp mơ hồ cũng có xảy ra ở một số bệnh nhân. Tuy nhiên, những đặc điểm này chưa được nghiên cứu.


- Bất thường về cận lâm sàng thường không đặc hiệu. Tăng bạch cầu đa nhân trung tính và/hoặc tăng tốc độ máu lắng hoặc CRP thường gặp trong cơn gout cấp, nhưng cũng được ghi nhận trong các bệnh lý viêm khớp cấp tính khác nên ít có giá trị chẩn đoán.


Diễn giải nồng độ acid uric máu trong đợt bùng phát bệnh gout cấp đôi khi rất khó. Ví dụ, trong những tháng đầu điều trị bằng thuốc hạ urate, các đợt bùng phát bệnh gout thường xảy ra với nồng độ acid uric huyết thanh bình thường hoặc thậm chí thấp. Nồng độ acid uric máu thấp có thể là do tác động của các cytokine trong đợt bùng phát. Nồng độ acid uric máu trong khoảng bình thường đến thấp đã được ghi nhận ở 12-43% bệnh nhân có đợt bùng phát bệnh gout.


Ở những bệnh nhân nghi ngờ có bệnh gout dựa trên các đặc điểm đã nói ở trên, nồng độ acid uric máu cao (≥ 6.8 mg/dL) có thể hỗ trợ cho việc chẩn đoán nhưng không phải là tiêu chuẩn chẩn đoán. Thời gian chính xác nhất để đánh giá nồng độ acid uric máu là hai tuần hoặc hơn sau khi cơn gout cấp thoái lui hoàn toàn.


Bắt đầu điều trị thuốc hạ urate có thể thúc đẩy viêm khớp gout cấp. Vì vậy điều trị dự phòng là cần thiết để ngăn chặn điều này.


1.2 Yếu tố thúc đẩy 


Chấn thương, phẫu thuật, đói, béo phì và ăn uống quá mức, mất nước, uống các loại thuốc ảnh hưởng đến nồng độ acid uric huyết thanh (tăng hoặc giảm) (ví dụ, allopurinol, uricosuric, thuốc lợi tiểu thiazide, lợi tiểu quai) và aspirin liều thấp có thể thúc đẩy các đợt bùng phát gout. Ở nam giới, gia tăng tiêu thụ rượu (bia và rượu mạnh, không bao gồm rượu vang) làm tăng nguy cơ phát triển bệnh gout.


Tiêu thụ nhiều thịt và hải sản làm tăng nồng độ acid uric máu, trong khi tăng tiêu thụ các sản phẩm sữa ít chất béo giúp giảm acid uric máu. Lượng thịt và hải sản trong chế độ ăn uống liên quan có ý nghĩa với tăng nguy cơ phát triển viêm khớp gout.


1.3 Bệnh gout đa khớp cấp


Biểu hiện ban đầu của bệnh gout với bệnh cảnh viêm đa khớp gặp trong ít hơn 20% bệnh nhân nhưng xảy ra với tần số ngày càng tăng trong các đợt bùng phát sau đó. Triệu chứng viêm đa khớp xuất hiện ở các bệnh nhân gout không được điều trị, bệnh tái phát nhiều, và khoảng thời gian không có triệu chứng ngắn hoặc vắng mặt. Nốt tophi thường thấy trong giai đoạn này.


Đợt gout cấp đầu tiên với bệnh cảnh viêm đa khớp thường gặp ở những bệnh nhân tăng acid uric máu và bệnh gout thứ phát do tăng sinh bạch cầu dòng lymphô hay dòng tuỷ hoặc ghép tạng đang được điều trị với cyclosporin A.


1.4 Chẩn đoán bệnh gout cấp


Chẩn đoán bệnh gout cấp chắc chắn nhất khi tìm thấy tinh thể urate trong dịch khớp bị ảnh hưởng (hoặc túi thanh mạc). Nếu không thể lấy dịch khớp thì chẩn đoán tạm thời có thể được thực hiện dựa vào các dữ liệu lâm sàng, bao gồm khai thác bệnh sử, khám lâm sàng, xét nghiệm thích hợp, và chẩn đoán hình ảnh.


Tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán bệnh gout - Trong trường hợp không có phương tiện để xác định tinh thể urate hoặc sử dụng kính hiển phân cực không tìm thấy tinh thể urate, chẩn đoán sơ khởi bệnh gout có thể được thực hiện bởi sự kết hợp của các tiêu chuẩn lâm sàng và bệnh sử.


Phương pháp chẩn đoán này phải được coi là tạm thời và ít đặc hiệu. Lâm sàng, tiêu chuẩn hình ảnh, và cận lâm sàng có thể hữu ích bao gồm:


- Bệnh sử điển hình của một hay nhiều đợt viêm một khớp, xen kẽ giữa các đợt bùng phát là những giai đoạn không có trriệu chứng.


- Cường độ viêm đạt tối đa trong vòng 24 giờ


- Viêm khớp bàn ngón chân cái 1 bên 


- Sự hiện diện của một tổn thương có thể nhìn thấy hay sờ thấy, mà theo vị trí và đặc điểm có khả năng là nốt tophi


- Tăng acid uric máu


- U nang xương dưới vỏ trên X quang hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) xác định các nốt tophi hoặc hình ảnh khuyết xương. Những thay đổi nhìn thấy trên hình ảnh không thể phát hiện được tại thời điểm đợt bùng phát cấp tính đầu tiên của viêm khớp do gout.


- Chụp cắt lớp (CT) năng lượng kép xác định lắng đọng tinh thể urate. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chụp cắt lớp năng lượng kép có thể xác định urate trong khớp và quanh khớp và có thể được phân biệt với lắng đọng canxi.    


- Siêu âm khớp cho thấy một vùng tăng âm phủ lên sụn hoặc các nốt tophi. Trong các nghiên cứu trên bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ hoặc đã được kiểm chứng bệnh gout, siêu âm phát hiện vùng tăng âm (HCA) có độ nhạy và độ đặc hiệu đối với bệnh gout là 79 và 95%, trong khi dấu hiệu đường viền đôi (DCS) ở bề mặt sụn có độ nhạy và độ đặc hiệu là 44 và 99%.


Ở những bệnh nhân có tăng acid uric máu không triệu chứng trong một nghiên cứu thực nghiệm nhỏ, cả HCA và DCS được tìm thấy ở các khớp xương của một số bệnh nhân mà chưa bao giờ có triệu chứng của viêm khớp do gout. Ý nghĩa của nghiên cứu này liên quan đến việc chẩn đoán bệnh gout ở những bệnh nhân không có triệu chứng và cần tiếp tục được thảo luận, nghiên cứu thêm.


Độ chính xác của chẩn đoán lâm sàng mà không cần xác nhận sự hiện diện của tinh thể urate là không chắc chắn. Một nghiên cứu trên 30 bệnh nhân bị bệnh gout cho thấy sự hiện diện của hai trong số ba tiêu chí Roma (acid uric huyết thanh ≥ 7 mg/dL; hiện diện của các hạt tophi, hoặc đau sưng khớp khởi phát đột ngột và khỏi bệnh trong vòng 1-2 tuần) có giá trị tiên đoán dương là 77%. Không có tiêu chuẩn lâm sàng nào có độ nhạy > 70% hay độ đặc hiệu > 89%.


Một hình ảnh lâm sàng thích hợp và nồng độ acid uric huyết thanh cao gợi ý chẩn đoán viêm khớp do gout cấp. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, một số lượng đáng kể các trường hợp vào thời điểm của đợt bùng phát, có nồng độ acid uric huyết thanh bình thường hoặc thậm chí thấp.


Ngược lại, những bệnh nhân bị viêm khớp cấp tính do các nguyên nhân khác không phải do gout có thể có tăng acid uric máu ngẫu nhiên.


Một phương pháp chẩn đoán đã được đề xuất để cải thiện độ chính xác của chẩn đoán mà không cần phân tích dịch khớp, trong đó kết hợp nhiều đặc điểm mô tả ở trên.


Quy tắc này được dựa trên một phân tích 328 bệnh nhân viêm một khớp được thăm khám đầu tiên bởi bác sĩ gia đình ở Hà Lan; bệnh nhân cũng được các chuyên gia phân tích dịch khớp.


Mô hình này sử dụng bảy biến, có thể giúp các bác sĩ gia đình phân biệt ba cấp độ nguy cơ của bệnh gout. Các biến và giá trị điểm sau đây được sử dụng:


-    Nam (2 điểm)

-    Bệnh nhân khai có đợt viêm khớp trước đó (2 điểm)
-    Khởi phát trong vòng một ngày (0,5 điểm)
-    Đỏ khớp (1 điểm)
-    Viêm khớp bàn ngón chân cái lần đầu (2,5 điểm)
-    Tăng huyết áp hoặc ít nhất có một bệnh tim mạch (1,5 điểm)
-    Nồng độ acid uric huyết thanh lớn hơn 5,88 mg/dL (3,5 điểm)

Trong nghiên cứu, điểm thấp (≤ 4 điểm), trung bình (5-7 điểm) và cao (≥ 8 điểm) có xác suất xác định bệnh gout lần lượt là 2,2%, 31,2% và 82,5%. Cách tiếp cận này có tỷ lệ chẩn đoán dương tính giả ít hơn so với dựa vào lâm sàng của bác sĩ gia đình (17% so với 36%). Bệnh nhân có mức điểm trung bình sẽ được lợi nhiều hơn từ việc đánh giá kỹ hơn nữa bằng phân tích dịch khớp. Quy tắc này chỉ được áp dụng cho những bệnh nhân viêm một khớp.


Lành bệnh - Lành bệnh của đợt bùng phát gout cấp đôi khi đi kèm bong vảy da vùng khớp bị ảnh hưởng.


1.5 Chẩn đoán phân biệt của viêm khớp gout cấp


Một số bệnh lý có thể có triệu chứng giống với viêm khớp do gout cấp. Phân tích dịch khớp gồm nhuộm Gram, cấy và soi dưới kính hiển vi ánh sáng phân cực cho phép phân biệt bệnh gout với các bệnh dưới đây trong phần lớn các trường hợp.


Chẩn đoán phân biệt viêm khớp do gout cấp ở một khớp với:


- Viêm khớp nhiễm trùng - viêm một khớp do gout cấp có thể có hình ảnh lâm sàng không thể phân biệt với viêm khớp nhiễm trùng cấp, bao gồm sốt, tăng bạch cầu, và tốc độ máu lắng tăng. Trong một số ít trường hợp, cơn gout cấp và viêm khớp nhiễm trùng cùng tồn tại.


- Chấn thương - đợt bùng phát gout nhẹ có thể giống với một trường hợp gãy xương hoặc chấn thương xương/khớp.


- Bệnh giả Gout (Canxi hóa sụn khớp) - do lắng đọng vi tinh thể pyrophosphate calci thường gặp ở người trên 60 tuổi. Trong một số trường hợp, cả tinh thể urate và pyrophosphate calci được xác định trong các bạch cầu trung tính ở dịch khớp khi 2 bệnh này cùng tồn tại.


- Viêm khớp tinh thể khác - Viêm khớp hoặc viêm quanh khớp do sự lắng đọng của tinh thể calcium phosphate thường không thể chẩn đoán một cách chắc chắn bằng kính hiển vi phân cực vì các tinh thể này có độ phân giải thấp hơn bước sóng của ánh sáng chuẩn trong kính hiển vi phân cực và chúng cũng có tính lưỡng chiết. Khi đó, kính hiển vi điện tử và kính hiển vi huỳnh quang sẽ giúp xác định các tinh thể này.


- Khác - Chẩn đoán phân biệt trên các bệnh nhân có tiền sử nhiều đợt viêm khớp tự khỏi hay cải thiện nhanh chóng và hoàn toàn khi được điều trị với các loại thuốc kháng viêm không steroid bao gồm viêm khớp phản ứng, thấp khớp cấp, và giả Gout.


2. Giai đoạn không triệu chứng giữa các đợt gout cấp


Sau khi cơn Gout cấp thoái lui, bệnh nhân vào giai đoạn không triệu chứng. Trong giai đoạn sớm của bệnh, ngay cả sau các đợt bùng phát cấp nghiêm trọng và mất chức năng, giữa các đợt cấp cũng thường hoàn toàn không có triệu chứng.


Đặc điểm này không thường gặp trong các bệnh viêm khớp khác, ngoại trừ bệnh lắng đọng tinh thể, điều này có giá trị gợi ý chẩn đoán bệnh gout.


Khoảng thời gian giữa các đợt bùng phát viêm khớp do gout thay đổi. Hầu hết bệnh nhân không được điều trị sẽ có đợt bùng phát thứ hai trong vòng hai năm.


Ví dụ, một nhóm lớn các bệnh nhân được nghiên cứu trước khi điều trị hạ urate hiệu quả thì phát hiện 62% bệnh nhân có đợt bùng phát thứ hai trong năm đầu tiên, 78% trong vòng hai năm, và 93% trong vòng 10 năm.


Đợt bùng phát viêm đa khớp do gout có thể xảy ra theo một tuần tự (di chuyển) hoặc đồng thời hoặc có thể liên quan đến các khớp xương, gân, và túi hoạt dịch lân cận. Ăn mòn xương và biến dạng có thể tiến triển (bệnh gout mãn tính), làm rút ngắn dần khoảng thời gian không có triệu chứng.


Giai đoạn này của bệnh khớp gout mãn tính thường đi kèm với lắng đọng các hạt tophi góp phần gây biến dạng và tàn tật.


Đánh giá - các phương tiện sẵn có để kiểm soát sự tăng acid uric máu một cách hiệu quả làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát viêm khớp do gout và các hạt tophi ở bệnh nhân tuân thủ điều trị hạ urate lâu dài. Khoảng thời gian giữa các đợt bùng phát ban đầu giúp:


- Thiết lập chẩn đoán bệnh gout nếu chẩn đoán đã không được thực hiện trong đợt bùng phát.


- Xác định và làm giảm các nguyên nhân có thể đảo ngược của tăng acid uric máu, có khả năng loại bỏ việc điều trị hạ urate dài hạn


- Phân loại bệnh nhân liên quan đến các cơ chế cơ bản gây tăng acid uric máu và bệnh gout, trong đó có những nguyên nhân gây tăng acid uric máu thứ phát do sản xuất quá nhiều hoặc giảm bài tiết.


- Chỉ định liệu pháp điều trị kháng viêm và hạ urate dự phòng.


Đánh giá bệnh nhân và tiến hành điều trị các bệnh đi kèm thường gặp ở bệnh nhân gout (như tăng huyết áp, suy giảm chức năng thận mãn tính, bệnh tim mạch, và hội chứng rối loạn chuyển hóa). 


3. Bệnh gout mạn tính có nốt tophi


Bệnh gout mạn tính có nốt tophi đặc trưng bởi sự lắng đọng tinh thể urate trong các mô liên kết (mà đôi khi có thể bị vôi hóa). Những nốt tophi có thể được nhận biết dễ dàng trên lâm sàng hoặc qua chụp X quang, CT scan, siêu âm hay MRI, đó là vì nhiều bệnh nhân bị gout và tăng acid uric máu kéo dài có sự lắng đọng các tinh thể urate không rõ ràng về mặt lâm sàng như chúng ta dự đoán.


3.1 Hình ảnh lâm sàng


Nốt tophi có thể nhìn thấy và/hoặc sờ thấy ở tai hoặc trong các mô mềm khác bao gồm cấu trúc khớp hoặc túi hoạt dịch. Nốt tophi thường không gây căng đau. Nốt tophi có thể bào mòn da, lộ ra một màu vàng hoặc trắng dưới da.


Trên tai, nốt tophi không cản quang. Phản ứng viêm tạo u hạt mạn tính được ghi nhận khi sinh thiết mô tổn thương, và đôi khi, có hiện tượng viêm cấp tính cùng với đợt viêm khớp do gout ở cạnh một hoặc nhiều nốt tophi.


Phản ứng viêm có thể lan rộng ra ngoài giới hạn của một khớp, làm cho khớp sưng to hơn do sự hiện diện của hạt tophi và/hoặc phản ứng viêm. Hình dạng có thể tương tự như viêm khớp trong các bệnh lý khác, chẳng hạn như viêm khớp vẩy nến, bệnh khớp cột sống, và bệnh sarcoidosis. Những tổn thương phá huỷ và lan rộng do bệnh gout có nốt tophi có thể nhầm lẫn với viêm tủy xương và đôi khi dẫn đến cắt cụt ngón do chẩn đoán sai.


Hình ảnh lâm sàng của bệnh gout mãn tính có nốt tophi có thể bị nhầm lẫn với các bệnh lý viêm đa khớp mạn tính khác như viêm khớp dạng thấp (đặc biệt nếu nhầm lẫn nốt tophi với các nốt dạng thấp).


Trong trường hợp này, tổn thương khớp thường không đối xứng và không đồng bộ trong bệnh gout, sự hiện diện của các tinh thể urate ở các tổn thương dạng nốt, và hình ảnh X quang thường đủ để phân biệt giữa các bệnh lý này.


3.2 Chẩn đoán hình ảnh


Xương bị ăn mòn do nốt tophi có hình ảnh gai đặc trưng. Các đặc tính của hạt tophi trên MRI bao gồm tín hiệu tương đối đồng nhất từ trung gian đến thấp trên T1W, cũng như hình ảnh T2W có tăng cường độ tín hiệu. Kích thước nốt Tophi có thể được ước tính trên MRI hoặc lượng định bằng CT năng lượng kép, nhưng ý nghĩa lâm sàng lại không được chắc chắn.   


Siêu âm kiểm tra sự lắng đọng tinh thể ở khớp và mô mềm là một phương thức ngày càng được hứa hẹn cho việc phát hiện sớm và theo dõi điều trị bệnh gout. Đường tăng âm phủ lên bề mặt của sụn khớp là một hình ảnh gợi ý.


4. Biến chứng thận do tăng acid uric máu mãn tính


Có hai biến chứng chủ yếu trên thận do tăng acid uric máu mãn tính: sỏi thận và bệnh thận urate mãn tính.


Sỏi thận - bệnh nhân gout có thể có sỏi urate. Sỏi urate đơn thuần chiếm 5-10% sỏi đường tiết niệu ở Hoa Kỳ và Châu Âu, nhưng chiếm hơn 40% sỏi đường tiết nệu ở những vùng có khí hậu nóng khô hạn.


Tỷ lệ sỏi urate ở những bệnh nhân có bệnh gout trước khi điều trị hạ urate hiệu quả là khoảng 20%, lớn hơn so với nhóm không mắc bệnh gout. Mặc dù nhiều sỏi đường tiết niệu ở những bệnh nhân bị bệnh gout được cấu tạo hoàn toàn là urate, nhiều sỏi cũng có chứa canxi oxalate hoặc canxi phosphate bao xung quanh một nhân urate.


Có ba yếu tố nguy cơ chính đối với sỏi urate ở thận:


-    Tăng bài tiết axit uric

-    Tỷ trọng nước tiểu giảm
-    pH nước tiểu thấp

Bệnh thận urate mãn tính - Suy thận thường gặp ở những bệnh nhân bị bệnh gout nhưng thường phản ánh sự cùng tồn tại của các bệnh lý khác như cao huyết áp, đái tháo đường, béo phì, xơ vữa động mạch.


Ngoài ra, các tinh thể urate có thể lắng đọng trong mô kẽ ở tủy thận, tạo ra phản ứng viêm mãn tính và mức độ xơ hóa khác nhau. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh thận urate mãn tính là creatinine huyết thanh tăng cao, cặn nước tiểu sạch, và tăng acid uric máu không tương xứng với mức độ suy thận.


5. Chẩn đoán gout mạn tính và gout giai đoạn không triệu chứng 


Ngay cả trong giai đoạn không có triệu chứng giữa hai đợt cấp, các tinh thể urate có thể được xác định trong dịch khớp từ khớp viêm trước đó trong phần lớn các trường hợp bệnh nhân gout không được điều trị và khoảng 70% những bệnh nhân được điều trị hạ acid uric máu.


Điều này cho phép xác lập chẩn đoán muộn trong đa số các bệnh nhân không được chẩn đoán trong giai đoạn cấp.


Xác nhận các tinh thể urate trong dịch hút từ nốt tophi giúp chứng thực chẩn đoán trong một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân gout có nốt tophi.


Trong trường hợp không có các phương tiện để xác định các tinh thể urate hoặc soi bệnh phẩm dưới kính hiển vi phân cực, chẩn đoán bệnh gout được thực hiện dựa vào sự kết hợp của các tiêu chuẩn lâm sàng và bệnh sử.


Theo BS. Cao Thị Lan Hương - Tạp chí Nhịp sống y khoa
Share:
Được tạo bởi Blogger.